QUÂN SỰ

Nỗi ám ảnh Mỹ 7 thập kỷ: Sở hữu sức mạnh hạt nhân lớn nhất TG, Mỹ vẫn dè chừng 1 thứ, đó là gì?

PHÁP LUẬT & BẠN ĐỌC   03/10/2020 • 13:31

Nỗi sợ này có từ thời Chiến tranh Lạnh. Đến nay, nó vẫn không thôi ám ảnh Mỹ.

Khi Thế chiến II (1939-1945) tàn canh, Mỹ và Liên Xô bước vào một cuộc đối đầu mới, không đổ máu mang tên Chiến tranh Lạnh. Cuộc so găng giữa hai cường quốc lớn kéo dài hơn 4 thập kỷ chính thức nổ ra với việc Washington sở hữu quả bom nguyên tử đầu tiên trong lịch sử năm 1945.

Để làm được bom nguyên tử, người ta cần Uranium. Nguyên tố có tính phóng xạ cực cao, được nhà bác học người Đức Martin Heinrich Klaproth (1743-1817) tìm ra cách đây 231 năm (năm 1789) này trở thành 'át chủ bài' của Liên Xô và Mỹ trong cuộc chạy đua chế tạo vũ khí hủy diệt.

Được thử vào ngày 16/7/1945, sâu trong vùng sa mạc ở Socorro, bang New Mexico (Mỹ), 'The Gadget' (mật danh quả bom) đưa Mỹ trở thành quốc gia khởi đầu cho kỷ nguyên nguyên tử của nhân loại. Không để thế giới chờ đợi lâu, chỉ từ năm 1946 đến 1958 - đỉnh điểm của cuộc leo thang chế tạo vũ khí hủy diệt giữa Mỹ-Xô - Mỹ đã cho thử thành công 23 quả bom nguyên tử với sức công phá lớn nhỏ khác nhau.

Chậm chân hơn Mỹ trong cuộc đua nguyên tử. Bốn năm sau ngày Mỹ xuất xưởng 'The Gadget', Liên Xô cũng cho nổ thành công vũ khí nguyên tử đầu tiên trong lịch sử nước mình vào năm 1949, ghi tên mình vào lịch sử là quốc gia thứ hai sở hữu vũ khí hủy diệt.

NỖI ÁM ẢNH MỸ 7 THẬP KỶ

Thời Chiến tranh Lạnh, bảo mật là chìa khóa tối quan trọng.

Hay tin địch thủ chế tạo thành công bom nguyên tử, Mỹ từ siêu cường hạt nhân duy nhất sở hữu vũ khí năng lượng cao bỗng trở thành ngang hàng với Liên Xô (Đó là chưa kể đến sự kiện Liên Xô cho nổ thành công quả 'bom vua' Sa Hoàng năm 1961 - vũ khí nguyên tử mạnh nhất mọi thời đại tính cho đến ngày nay).

Khi vị thế không còn ở chỗ độc tôn, cộng thêm sự ám ảnh khôn nguôi về sức mạnh quân sự bí mật mà Liên Xô có thể sở hữu, các quan chức Nhà Trắng bắt đầu lo sợ về khả năng Mỹ bị tấn công khủng bố từ các loại vũ khí nguyên tử tuồn vào từ bên ngoài, đặc biệt là từ các gián điệp của Liên Xô.

Ngăn chặn Uranium được làm giàu cấp vũ khí xuất hiện ở các sân bay Mỹ là mục tiêu quốc gia mà Washington tốn rất nhiều công sức triển khai, vô hiệu hóa.

Nỗi sợ về việc nguyên liệu phóng xạ được làm giàu hoặc nhiều thiết bị hạt nhân có thể được đưa lén vào nước Mỹ trở thành nỗi ám ảnh kéo dài từ thời Chiến tranh Lạnh đến nay.

Và đó cũng là chủ đề tại phiên điều trần kín của Ủy ban Đặc biệt về Năng lượng Nguyên tử của Thượng viện vào ngày 5/12/1945.

Hôm đó, Thượng nghị sĩ Eugene Millikin của bang Colorado đã hỏi Robert Oppenheimer, người đứng đầu phòng thí nghiệm vũ khí nguyên tử của Dự án Manhattan - dự án chế tạo bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, rằng liệu Mỹ có thiết bị dò phóng xạ có thể bắt được những vũ khí đó nếu chúng được mang trái phép qua biên giới hay không.

'Cha đẻ vũ khí nguyên tử' Robert Oppenheimer đưa ra rất ít hy vọng.

Ít lâu sau, vào tháng 8/1949, Liên Xô cho nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của nước này, chính thức trở thành đối trọng hạt nhân của Mỹ.

Có thừa sự lo lắng về tiềm lực quân sự bí mật của Liên Xô, chính quyền Tổng thống Truman phê duyệt Dự án Screwdriver, trong đó tập hợp các chuyên gia tại các phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos và Oak Ridge để báo cáo về các phương pháp mới nhất có thể phát hiện bom A (bom nguyên tử).

Năm 1952, Project Screwdriver đã dẫn đến việc phát minh và lắp đặt một số lượng nhỏ máy dò bức xạ bí mật chủ yếu tại các sân bay ở New York và San Antonio, trong một chiến dịch ngầm mang tên Dự án Doorstop.

Khung cảnh tại sân bay Idlewild ở New York, nơi mà các quan chức vào những năm 1960 tin rằng dễ bị gián điệp buôn lậu bom A. Ảnh: Getty

Khung cảnh tại sân bay Idlewild ở New York, nơi mà các quan chức vào những năm 1960 tin rằng dễ bị gián điệp buôn lậu bom A. Ảnh: Getty

Tất cả thông tin về Doorstop đều được bảo mật rất cao để giúp lực lượng đặc nhiệm Mỹ có thể phát giác bất kỳ kẻ xấu/tình nghi nào trước khi chúng có thể bị bắt. Không một thông tin chi tiết nào về Doorstop được công bố cho đến khi nó xuất hiện trong một bài báo năm 2010 trên tờ New York Times, sau khi tờ này có được thông tin quý giá từ Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI).

Project Doorstop là nỗ lực kiểm tra an ninh hành khách hàng không đầu tiên trong lịch sử, trước khi các biện pháp chống không tặc được công bố rộng rãi trên toàn quốc tại các cửa lên máy bay của sân bay.

Project Doorstop chỉ tìm kiếm một thứ duy nhất: Phóng xạ từ lượng Uranium hoặc Plutonium khối lượng khoảng 1 kg do hành khách quốc tế mang đến Mỹ trái phép. Lý do là khi đó Uranium hoặc Plutonium được làm giàu cấp vũ khí là thành phần thiết yếu cho bất kỳ quả bom hạt nhân nào, dù là thiết bị phân hạch năng suất thấp hay bom H có khả năng phá hủy một thành phố.

Các máy quét bức xạ của Doorstop bắt đầu xuất hiện tại một số địa điểm trong yếu tại Mỹ vào tháng 8/1954. Chúng có hai kích thước: 1 là tủ thép dài 1,5 mét, nặng 363 kg được gọi là 'máy dò thụ động', có kích thước bằng một bàn văn phòng, có thể sàng lọc hành khách đi máy bay và hành lý; Kích thước còn lại là các máy quét nhỏ hơn, có thể cầm tay, ít nhạy cảm hơn chủ yếu được sử dụng bởi các thanh tra hải quan bí mật hoạt động xung quanh hầm tàu.

Các thiết bị dò Doorstop được đặt để 'bắt' các thành phần bom A của Liên Xô trước khi chúng có thể 'đột nhập' bất hợp pháp vào Mỹ.

Lý do trong thời kỳ tiền ICBM (Tên lửa xuyên lục địa) này như sau: Bất kỳ cuộc tấn công lén lút thành công nào của Liên Xô đều phụ thuộc vào từng đợt máy bay ném bom hạng nặng mang vũ khí nguyên tử. Tuy nhiên, những máy bay ném bom của đối phương sẽ phản bội chính họ trên lưới radar của Bắc Mỹ, từ đó ngăn chặn sự bất ngờ trong chiến thuật tấn công của địch thủ (Liên Xô).

Do đó, các nhà hoạch định chiến tranh của Mỹ lý luận rằng, có thể Liên Xô muốn đặt vũ khí hạt nhân bên trong các thành phố và căn cứ không quân của chúng ta (Mỹ). Những quả bom ẩn đó sẽ được kích hoạt ngay trước khi máy bay Liên Xô bắt đầu xuất hiện trên radar, gây trở ngại lớn cho hệ thống phòng thủ của Mỹ.

DI SẢN CỦA PROJECT DOORSTOP

Theo báo cáo của Cơ quan Quản lý An ninh Hạt nhân Quốc gia Mỹ (NNSA), từ năm 2000 đến năm 2019, Mỹ đã đánh chặn và thu giữ hơn 7.000 kg nguyên liệu Uranium và Plutonium, lượng chất phóng xạ này đủ để chế tạo hơn 300 loại vũ khí hạt nhân, người đứng đầu NNSA Lisa Gordon-Hagerty cho biết.

Tất cả các vụ nổ hạt nhân có sức công phá hủy diệt có thể đến từ lượng Uranium hoặc Plutonium nhỏ cỡ một quả bóng chày. Tuy nhỏ nhưng việc bảo quản và cất giấu chúng là điều không dễ dàng.

Bởi nếu không được bảo quản kín, hai nguyên tố này sẽ phản bội sự hiện diện của chúng đối với các máy dò bức xạ với phát xạ giống như tia X và các hạt được gọi là neutron. Đây là sản phẩm của sự phân tách nguyên tử tự phát diễn ra liên tục trong Uranium và Plutonium cấp vũ khí.

Đây là nơi bắt đầu các vấn đề về phát hiện bom A. Tia gamma có thể bị chặn bằng các tấm thép hoặc chì. Còn về sự phát xạ neutron? Neutron khó che chắn hơn, cần nhiều lớp vật liệu chịu nước hoặc nhựa dày. Plutonium chắc chắn thải ra một số lượng lớn neutron mỗi giây. Đó là kết quả không thể tránh khỏi của việc sản xuất trong các lò phản ứng hạt nhân.

Vấn đề mà các nhà hoạch định chiến tranh phải đối mặt là Uranium cấp độ vũ khí tỏa ra ít bức xạ hơn nhiều so với Plutonium.

Penrose Albright, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore cho biết: 'Tin tốt là Plutonium có thể phát hiện dễ hơn. Tin xấu là Uranium không giống như Plutonium'. Các nhà hoạch định của Project Doorstop biết rằng việc chế tạo Uranium cấp độ vũ khí là một thách thức công nghiệp to lớn, nhưng họ cũng biết người Liên Xô có thừa khả năng để làm việc đó.

Để hữu ích trong việc phát hiện Uranium, các máy dò của Doorstop sẽ phải được đặt cách hành lý và hành khách đi qua trong vòng một mét. Ngoài ra, thiết bị này cũng không thể thu hút sự chú ý: Nếu Liên Xô biết người Mỹ đang làm gì, họ sẽ lén ném bom hủy diệt vào Mỹ theo cách khác.

Bài toán đặt ra là đặt các máy dò lớn đó ở đâu?

Các nhà ngoại giao Liên Xô (không có trong ảnh) thường xuyên tham gia vào đoàn người vào Mỹ trên các chuyến bay quốc tế đến sân bay Idlewild. Ảnh: SAS Scandinavian Airlines

Các nhà ngoại giao Liên Xô (không có trong ảnh) thường xuyên tham gia vào đoàn người vào Mỹ trên các chuyến bay quốc tế đến sân bay Idlewild. Ảnh: SAS Scandinavian Airlines

Ban đầu, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Mỹ (AEC) chỉ có sáu máy có sẵn để sử dụng cho các nhân viên Dịch vụ Hải quan Mỹ.

Câu trả lời dựa trên một số giả định. Đầu tiên, Liên Xô điều hành một tổ chức nghiêm ngặt từ trên xuống và sẽ không bao giờ tin tưởng giao những quả bom lậu cho các đặc vụ cấp thấp hoặc những người có thiện cảm với Mỹ.

Thứ hai, Liên Xô sẽ thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để ngăn các nhà chức trách phát hiện ra dù chỉ một vũ khí nhập lậu trước một cuộc tấn công. Một khám phá như vậy sẽ làm rung chuyển thế giới và biện minh cho một cuộc tấn công ngay lập tức vào các mục tiêu của Liên Xô.

Cuối cùng, các nhà phân tích của Doorstop tin rằng sự kiểm soát của Liên Xô đối với thời điểm kích nổ sẽ rất nghiêm ngặt. Chỉ một vài nhà ngoại giao có thể được giao cho một trọng trách quan trọng như vậy.

Đặt tất cả những giả định này lại với nhau, những người đứng đầu Dự án Doorstop nghĩ, Liên Xô sẽ dựa vào phương thức đáng tin cậy nhất: Vận chuyển viên đưa các bộ phận quan trọng của bom vào trong túi ngoại giao niêm phong. Theo thỏa thuận quốc tế, túi ngoại giao niêm phong đó sẽ được chấp nhận miễn là có con dấu chuyển phát nhanh và tài liệu thích hợp.

Vào thời điểm này, Mỹ cho phép các nhà ngoại giao Liên Xô ra vào ở một số cảng ở New York, Texas và Vermont. Do đó, Project Doorstop sẽ tập trung 5 trong số 6 máy dò của mình ở New York, song song với đó là quá trình đào tạo các nhân viên Hải quan sử dụng máy dò thành thạo. Máy dò thứ sáu sẽ được đặt tại Sân bay Quốc tế San Antonio ở bang Texas.

Trong hơn một năm, FBI, Hải quan và Cảnh sát biển của Mỹ đã truy đuổi hai nhân vật đầu mối khả nghi ở Luxembourg và Pháp. Hai người này (giấu danh tính, theo bài báo điều tra của New York Times) trước đó cung cấp thông tin với Bộ Ngoại giao Mỹ rằng người Liên Xô đang lên kế hoạch buôn lậu 8 quả bom A vào Mỹ.

Năm 1954, các quan chức Hải quan chuẩn bị kiểm tra hàng hóa tại Cảng New York. Ảnh: Neny23567 via Ebay

Năm 1954, các quan chức Hải quan chuẩn bị kiểm tra hàng hóa tại Cảng New York. Ảnh: Neny23567 via Ebay

Cục Điều tra Liên bang Mỹ những năm đó đóng vai trò lớn trong việc truy lùng và bắt giữ những đối tượng 'tuồn' các nguyên liệu phóng xạ vào Mỹ. Họ từng phát hiện một kiện hàng nặng 32kg do một nhà ngoại giao Israel mang theo khiến máy dò bức xạ phát tín hiệu phát hiện neutron và gamma.

FBI để xuất thay đổi quy định của Bộ Ngoại giao Mỹ về kích cỡ kiện hàng ngoại giao, không lớn hơn một chiếc phong bì cỡ lớn. Bằng cách đó, Liên Xô hoặc bất cứ quốc gia nào đó có ý định 'tuồn chất cấm' sẽ phải chia nhỏ Uranium hoặc Plutonium và buộc phải thực hiện hàng chục chuyến đi qua Hải quan để tích lũy một khối lượng chất phóng xạ đủ để làm một vũ khí nguyên tử. Nhờ đó, khả năng bị phát hiện sẽ cao hơn (do tính khả nghi lặp lại của sự việc).

Một biện pháp khác là yêu cầu kiểm tra đột xuất bất kỳ túi ngoại giao/vali ngoại giao nào gây ra báo động, hoặc ít nhất, có khả năng tạm giữ một nhà ngoại giao nào khả nghi.

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao đã từ chối tất cả những điều này, cho rằng nó sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến các đặc quyền ngoại giao của Mỹ.

Doorstop để lại di sản gì cho an ninh sân bay Mỹ? Theo bài báo điều tra của New York Times năm 2010, những năm về sau, các máy dò bức xạ vẫn được các ông chủ Nhà Trắng coi trọng. Các máy dò cố định ban đầu được đặt rải rác tại sân bay Idlewild (nay là sân bay JFK) đã không còn nữa, nhưng trong một báo cáo ngày 2000, Ủy ban Khoa học Quốc phòng đã liệt kê dự án này tiếp tục hoạt động đến năm 1970. Và theo Penrose Albright, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, một số máy dò bức xạ của nó có thể vẫn còn phục vụ dưới thời chính quyền Tổng thống Clinton.

Máy dò bức xạ vẫn là trụ cột chính trong ngăn chặn buôn lậu hạt nhân. Anna Erickson thuộc Viện Công nghệ Georgia (Mỹ) cho biết những chiếc máy này, cả di động và cố định, đều rất nhiều và không dễ nhận biết. 'Bạn có thể đang đứng cạnh một chiếc máy dò mà bản thân không hề hay biết'.

Những cỗ máy như vậy, mà Mỹ đã triển khai cả ở các sân bay trọng yếu và tại các cửa khẩu biên giới ở Đông Âu cũng như các điểm nóng buôn lậu khác trên thế giới, không chỉ phục vụ mục đích thu giữ Uranium và Plutonium trái phép MÀ CÒN hạn chế rủi ro có thể xảy ra đó là những 'quả bom bẩn' có thể phát tán những đám mây bụi phóng xạ mịn. Một vài kg chất nổ kèm một lượng đồng vị phóng xạ nhất định có thể gây ô nhiễm nhiều khu phố ở Mỹ.

Mặc dù mức độ phơi nhiễm phóng xạ sẽ ít hơn nhiều so với mức độ gây ra bởi một thiết bị phân hạch, nhưng một 'quả bom bẩn' vẫn sẽ gây ra rất nhiều hậu quả về sức khỏe người dân và gây khó khăn kinh tế.

Anna Erickson thuộc Viện Công nghệ Georgia (Mỹ) giải thích rằng các máy dò cố định không dễ dàng gì phát hiện Uranium làm giàu cấp độ vũ khí bởi, khi đó nó phát ra bức xạ yếu. Chúng có thể được che chắn bằng nhiều lớp kim loại và nhựa, đặc biệt nếu gói hàng nằm sâu trong một thùng hàng lớn chứa đầy hàng hóa hỗn hợp.

Về sau, với sự ra đời của hệ thống kiểm tra an ninh sân bay quốc gia vào năm 1973 - được nâng cấp mạnh mẽ sau vụ khủng bố 11/9 - Mỹ đã làm khá tốt trong việc phát hiện gián điệp ngầm từ nước ngoài mang theo các nguyên liệu phóng xạ được làm giàu cấp độ vũ khí.

Giám đốc Cục Quản lý An ninh Giao thông vận tải David Pekoske cho biết, trong một cuộc phỏng vấn với CBS năm 2018, rằng những cỗ máy dò hiện đại này có thể phát hiện ra nhiều loại chất nổ hơn cũng như lượng nhỏ hơn.

Dù Chiến tranh Lạnh đã kết thúc nhưng nước Mỹ vẫn dè chừng nhiều nguy cơ đến từ các vụ khủng bố từ bên ngoài (sự kiện 11/9 là một ví dụ), do đó, ngày nay, các sân bay triển khai các thiết bị hiện đại như Công nghệ Hình ảnh Nâng cao dựa vào năng lượng sóng milimet và phân tích máy tính để xác định vị trí các đối tượng đáng ngờ.

Cho đến nay, Mỹ vẫn là quốc gia sở hữu nhiều vũ khí hạt nhân nhất thế giới. Tuy đứng ở vị trí cao nhất nhưng Mỹ không phải là nước duy nhất nắm trong tay thứ vũ khí hủy diệt này (còn có Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc...) đó là lý do, nỗi sợ về những vụ tấn công khủng bố quy mô hạt nhân từ thời Chiến tranh Lạnh đến nay vẫn ám ảnh không nguôi...

Bài viết sử dụng nguồn: Air Space Magazine, Euronuclear

Theo Trang Ly/Pháp luật & bạn đọc Link Gốc:           Copy Link
http://phapluatbandoc.giadinh.net.vn/noi-am-anh-my-7-thap-ky-so-huu-suc-manh-hat-nhan-lon-nhat-tg-my-van-de-chung-1-thu-do-la-gi-162200310101808707.htm

Thích

Tags: Uranium | nguyên tử | tác giả Trang Ly | làm giàu Uranium | máy dò phóng xạ | nguyên liệu phóng xạ | chiến tranh lạnh | Liên Xô | bom nguyên tử | vũ khí nguyên tử

MỚI NHẤT

goto top